Dân tộc Thái ở Mai Châu, Hòa Bình (2022)

Nơi cư trú

Người dân tộc Thái Hoà Bình sinh sống chủ yếu ở huyện Mai Châu. Tên gọi xưa của Mai Châu là Mương Mai. Xưa nữa thì gọi là Mương Mùn vì đây là vùng đất nằm giữa suối Xia và suối Mùn. Từ khoảng cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14, người Thái từ vùng Khước Hà (Bắc Hà, Lào Cai) đã về đây định cư. Mai Châu vốn là vựa lúa đầu nguồn sông Mã, là vùng kinh tế phát triển cao, nổi tiếng về nghề chăn nuôi, dệt thổ cẩm…

Thổ cẩm Mai Châu từ thời phong kiến đã vượt biên giới Việt Nam. Sự trù phú, tính cộng đồng chặt chẽ của người Mai Châu được thể hiện trong thành ngữ “Tin duy tò, hò hườm tam” nghĩa là “Chân thang sát, góc nhà kề”. Bất cứ nhà ai có người chết, cả làng đều cùng đội khăn tang.

Người dân tộc Thái Mai Châu
Người Thái Mai Châu

Nếu vào các bản dân tộc Thái và được thưởng thức hương vị cá đồ, măng đắng, là coi như bạn đã trở thành người khách quý. Một số bản Thái ở Mai Châu từ lâu đã cuốn hút và làm cho du khách sững sờ trước vẻ đẹp của thiên nhiên cùng sự phong phú, độc đáo của nếp sinh hoạt Thái. Giống như bản làng của người Mường, người dân tộc Thái thường sống ở những nơi có sông, suối, núi rừng, phía trước nhà thường là cánh đồng.

Huyện Mai Châu là nơi có nhiều bản du lịch nổi tiếng với các bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn… nơi khách du lịch có thể thấy cuộc sống hàng ngày của người dân. Người Thái cũng làm nhà sàn như người Mường song nhà sàn Thái rộng hơn, sắp xếp quy củ hơn. Quần thể các ngôi nhà sàn trong khuôn viên thoáng đãng nằm thấp thoáng trong những rặng cây cùng với hình ảnh người phụ nữ mặc trang phục truyền thống bên khung cửi dệt vải đã trở nên rất quen thuộc.

Xem thêm Kinh nghiệm du lịch Mai Châu Hòa Bình.

Trang phục dân tộc Thái

Trang phục truyền thống người Thái Mai Châu
Trang phục truyền thống người Thái Mai Châu

Trang phục của người dân tộc Thái đa dạng và hết sức độc đáo. Bộ trang phục duyên dáng, gọn gàng bó sát người làm nổi lên những đường cong khoẻ khoắn tuyệt đẹp của những cô gái dân tộc Thái; trang phục của nam giới thì giản dị, gần gũi với môi trường cảnh quan, không sặc sỡ và cầu kỳ…

Đó là những bộ trang phục truyền thống được dệt nên từ chất liệu thổ cẩm của chính những người phụ nữ Thái ở huyện Mai Châu. Trang phục của dân tộc Thái Mai Châu có nhiều nét tương đồng, gần gũi với trang phục của dân tộc Mường là minh chứng cho sự đoàn kết, giao thoa văn hoá của 2 dân tộc. Bộ trang phục thường ngày của nam giới Thái ở Mai Châu giản dị, gần gũi với môi trường cảnh quan và lối không đòi hỏi sặc sỡ và cầu kỳ.

Trang phục phụ nữ Thái có những hoa văn trang trí mang biểu tượng thiên nhiên đa dạng : chim muông, cây cỏ. mặt trời. Đai thắt lưng và khăn Piêu là những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo.

Khăn chít đầu của phụ nữ dân tộc Thái ở Mai Châu cũng giống như khăn chít đầu của phụ nữ Mường, có màu trắng. Khi chít khăn, gập đôi hoặc ba và chít quanh một vòng đầu. Một số thiếu nữ thường gấp khăn phía trước có hình quả núi.

Phụ nữ dân tộc Thái rất thích dùng những đồ trang sức như: xà tích, vòng bạc đeo cổ và đeo cổ tay (giống như phụ nữ Mường nhưng thường đeo tới 2 – 3 vòng cả hai cổ tay), nhẫn bạc, khuyên tai bạc hoặc vàng. Người phụ nữ Thái ở Mai Châu thường búi tóc sau gáy, cài trâm bạc hoặc trâm bằng xương thú. Khi còn trẻ chưa lấy chồng, họ thả tóc sau lưng, buộc chỉ màu thay cặp tóc, khăn đội đầu màu trắng, để răng trắng. Khi lấy chồng có con, họ nhuộm răng đen.

Đối với các cụ bà, chiếc áo xanh chàm luôn luôn mặc theo người, khi không mặc thì bỏ gọn trong giỏ đựng trầu cau đeo ở lưng. Dù nhà giàu hay nghèo, các cụ cũng chọn vừa ý mình một đôi khuyên tai bạc và một chiếc vòng bạc (trơn) đeo cổ tay coi như kỷ vật bất khả xâm phạm. Khi qua đời, những vật trang sức đó cũng được chôn theo người. Ngày nay, phụ nữ Thái ở Mai Châu đã có những thay đổi về trang phục, sơ mi nữ bằng vải dệt công nghiệp. Các đồ trang sức như bộ xà tích, vòng bạc… ít được dùng.

Quan điểm về thế giới dân tộc Thái

Vũ trụ quan của người dân tộc Thái gồm ba thế giới, một thế giới ở trên trời cao và hai thế giới cùng tồn tại ở mặt đất, một bên là thế giới của những người sống và một bên là thế giới của ma. Thế giới trên trời có Then Luông là đấng tối cao nhất cai quản trời đất, loài người và vạn vật, Then Luông được các quần thần giúp việc. Dưới trần gian, bất cứ ở nơi nào cũng có các ma (phi) cai quản.

Muốn lập bản, khai phá ruộng, phát nương, đánh cá, săn thú đều phải xin phép các ma ruộng, ma nương, ma rừng, ma suối… Những vị thần trên trời, các ma dưới trần kể trên cùng với ma nhà (phi hươn), ma họ (phi đẳm), những ông, bà, cụ kỵ đã khuất (pú pầu) là những lực lượng phù hộ, bảo vệ người.

Người dân tộc Thái quan niệm, trên thân thể con người, những hồn (khuân) ở đầu người tập trung thành một ma (phi) và lên trời. Trời là thế giới bên trên – nơi ngự trị của Then. Các hồn ở tứ chi tập trung thành ma nhà (phi hươn) và nương tựa nơi bàn thờ người chết trong nhà. Ma nhà cũng tồn tại với người sống, trong thế giới của người sống. Các hồn ở thân cây cũng họp lại thành một ma để về Mường Pú Pẩu ở trong rừng, nơi chôn người chết, Mường Pú Pẩu ứng với Mường Ma.

Thờ cúng

Người dân tộc Thái cũng thờ tông tộc, dòng họ và có nơi thờ riêng, có thể là một cánh rừng cấm, một hòn đá hay một gốc cây. Các họ hàng cùng thờ chung và liên kết với nhau qua việc thờ chung con ma của dòng họ, còn gia đình quần tụ nhau qua việc thờ chung ma nhà. Người Thái cũng có các ông mo làm thầy cúng và vai trò của những người này khá quan trọng. Mo vừa là thầy cúng vừa là thầy chữa bệnh như kiểu mỡi của người Mường.

Người dân tộc Thái cũng tin nhiều vào các sức mạnh của ma, quỷ, thần… theo quan niệm vạn vật hữu linh truyền lại từ xa xưa. Tuy nhiên, do sự phát triển của xã hội, những hiện tượng này đã giảm bớt rất nhiều. Cũng như vậy, việc bùa, yểm, chài, điềm lành, điềm dữ… vẫn còn là nỗi lo lắng trong tâm thức dân gian.

Nghề dệt thổ cẩm dân tộc Thái

dệt khung cửi Thái Mai Châu
dệt khung cửi Thái Mai Châu

Dệt thổ cẩm của người dân tộc Thái đã trở thành nét đặc biệt của văn hoá Thái ở Hoà Bình. Từ nhỏ (khoảng 5 – 6 tuổi) các em gái dân tộc Thái đã được mẹ dạy cho cách dệt thổ cẩm kèm với công việc chăm lo quán xuyến gia đình. Bởi vậy, đến khi lập gia đình, các cô gái Thái đã thành thạo nghề canh cửi và có một kiến thức nhất định về các loại sản phẩm thổ cẩm truyền thống, giúp cho họ dệt nên những vật dụng thiết yếu cho mình và gia đình khi tạo dựng cuộc sống mới. Đó là vật hồi môn không gì thay thế được của các cô gái Thái khi về nhà chồng.

Nói đến nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái phải kể đến sự tích quả trứng rồng. Tích xưa kể lại rằng ở bản Chiềng Châu có một cặp vợ chồng sống nhân từ tích đức nhưng mãi chẳng có con. Trong một lần, hai vợ chồng đi xúc cá ở hồ Mỏ Luông thấy xúc được một quả trứng. Hai vợ chồng nâng niu mang quả trứng về ấp thấy nở ra một con rồng con. Hai vợ chồng vô cùng mừng rỡ, chăm chút cho rồng con lớn từng ngày. Lớn thêm một chút, rồng con theo cha lên rừng phát nương, làm rẫy. Đã nhiều lần cha nhắc rồng con nằm ngoan một chỗ xem cha làm việc nhưng rồng con không nghe.

Trong một lần sơ ý, nhát dao phát nương của cha đã chém cụt mất đuôi rồng con. Thương xót rồng con và cũng là nhắc nhở những đứa trẻ không chịu nghe lời cha mẹ, từ đó trở đi, trên tấm vải thổ cẩm truyền thống mẹ thêu thêm hình ảnh con rồng cụt đuôi. Cứ thế theo thời gian, hoạ tiết con rồng cụt đuôi đã làm nên nét truyền thống, độc đáo và riêng biệt trong các sản phẩm dệt thổ cẩm của người dân Chiềng Châu. Ngoài hoạ tiết con rồng, hoa văn phổ biến trong sản phẩm thổ cẩm của người Thái Chiềng Châu là hình ảnh con voi, con chim, con cua, hoa, lá.

dệt thổ cẩm
Dệt thổ cẩm

Sản phẩm dệt thổ cẩm của người dân tộc Thái ở Mai Châu đều được se sợi từ bông tự nhiên. Sợi sẽ được nhuộm màu bằng màu tự nhiên. Cách nhuộm vải truyền thống chính là yếu tố làm nên hồn cốt của thổ cẩm người Thái.

Cỏ ngọt sẽ cho ra màu xanh nhạt; hoa hoè cho màu đỏ hoặc cánh kiến, hồng nhạt; lõi cây mít cho ra màu vàng; hoa hiên thành màu đỏ; coóng cằm sẽ cho màu tím. Ngoài ra còn có thể sử dụng cây phang, vỏ cây vải.Tất cả các nguyên liệu này được đun lên lấy nước, tuỳ theo khối lượng, pha màu sẽ tạo thành màu như ý. Sợi sau khi nhuộm xong sẽ được phơi khô bằng ánh nắng tự nhiên trước khi đưa vào dệt.

Theo thời gian, sản phẩm dệt thổ cẩm đã trở thành biểu tượng văn hoá sống động của người Thái Mai Châu. Song đồng thời nghề dệt thổ cẩm còn thể hiện sự phân công trong lao động của người dân dân tộc Thái. Người Thái qua bao đời đã đúc kết qua câu tục ngữ “Nhinh dệt phại, chai xan he” có nghĩa tiếng Việt là “Gái dệt vải, trai đan chài”.

Hơn nữa, nó không chỉ là sự phân công lao động giản đơn giữa nữ giới và nam giới mà nó đã trở thành tiêu chuẩn đánh giá vai trò nam, nữ của dân tộc Thái từ xưa đến nay. Một thực tế cho thấy, nghề dệt thổ cẩm vẫn đang và sẽ gắn bó suốt đời với đời sống của người phụ nữ dân tộc Thái. Sản phẩm từ dệt thổ cẩm đã trở thành một kho tàng của cải đáng giá của các gia đình dân tộc Thái.

Mỗi khi chúng ta bước lên nhà người Thái, các bộ chăn, đệm… với những đồ án, hoa văn trang trí tinh xảo đẹp mắt xếp ngăn nắp thể hiện sự sung túc, nếp sống văn minh, lịch sự của mỗi gia đình nói riêng và dân tộc Thái nói chung. Điều đặc biệt hơn nữa, trong số các bộ chăn, gối, đệm đó bao giờ chủ nhà cũng dành một bộ mới, đẹp nhất để tiếp khách. Điều đó thể hiện sự hiếu khách và đã trở thành truyền thống của người Thái vùng Tây Bắc.

Văn nghệ dân gian

múa văn nghệ Thái Mai Châu
Múa văn nghệ Thái Mai Châu

Người dân tộc Thái có nhiều phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp, nền văn hóa đa dạng: thơ, hoa, văn, y phục, nhạc lý, làn điệu dân ca… Trước hết nói đến âm nhạc dân gian của người Thái thì họ không có dàn chiêng cồng phong phú như của người Mường, người dân tộc Thái có một kho tàng dân ca riêng của mình với những giai điệu âm nhạc đặc sắc. Từ những bài mo, những đêm kể áng sử thi Ẳm Ệt nổi tiếng có kèm diễn xướng, đến những điệu khắp, điệu hát dao duyên…đều mang đậm giá trị âm nhạc.

Nổi bật nhất ở người Thái về nghệ thuật dân gian có lẽ phải kể đến múa. Nếu như loại hình ở người Mường chưa phải là đặc sắc thì ở người Thái thật đáng kể. Các nhà nghiên cứu múa Thái chia ra làm ba loại chính đó là:

+ Múa Mùn: đó là múa trong những buổi cúng ma trước đây trong đó có múa kiếm, múa sai hạng ( múa khăn) múa kệp boóc (múa nhặt hoa)…Mối loại múa này trong Múa Mùn đều chứa đựng một sự phong phú, da dạng của múa dân tộc Thái. Ví như múa kiếm vừa là một nghệ thuật lại vừa có tính chất võ thuật thể hiện rõ tài năng của người múa.

Điệu múa này có kèm theo nhạc của một loại nhạc cụ gọi là tăng bu gồm những ống nứa dài dỗ đầu xuống một tấm ván dài phát ra một âm thanh đục và hai ống nứa gõ vào nhau tạo thành âm thanh Sắc hơ. Xưa kia người ta dùng điệu múa này để đuổi tà ma.

+ Múa Xòe là lạo hình thứ hai, đó là một điệu múa đơn giản, nhẹ nhàng, thoải mái nổi tiếng ở tất cả các vùng người dân tộc Thái. Xòe Thái đã đi vào văn học, thơ ca, nghệ thuật, là kỷ niệm, là niềm say mê ám ảnh của biết bao người.

Xòe là hình thức múa dân gian phản ánh cuộc sống lao động và đấu tranh sinh tồn giữa con người với cuộc sống thiên nhiên và phản ánh sức sống mãnh liệt của dân tộc Thái trong việc đấu tranh chống ngoại xâm. Múa xòe thể hiện giấc mơ của người dân về cuộc sống thanh bình, ước muốn ấm no hạnh phúc. Người múa xòe đứng thành vòng tròn nắm tay nhau, thường thì nam, nữ đan xen. Khi múa, nếu vòng đơn thì vòng xòe quay ngược chiều kim đồng hồ, nếu vòng xòe kép thì các vòng xòe quay ngược chiều nhau trông đẹp mắt.

Một trong những yếu tố thu hút người tham gia vòng xòe là sự dân giã, mộc mạc, dễ múa, dễ hiểu và sức quyến rũ của nhạc lý. Cuộc sống lao động đã hình thành nên một trong những nét đẹp truyền thống là vòng xòe, tiếng dân tộc Thái là “Xóe voóng”. Khi múa xòe người ta cầm tay nhau múa du dương nên xòe vòng còn có tên là: xóe khăm khen. Lúc trong bản có ngôi nhà sàn mới hoàn thành, chủ nhà làm lễ mừng nhà mới, bà con hàng xóm trong, ngoài bản kéo nhau đến mừng cho chủ nhân. Tiếng trống, chiêng nổi lên đan xen tiếng reo hò của nam thanh, nữ tú vòng xòe được hình thành.

Vòng xòe có sức hút mãnh liệt và không phân biệt già trẻ, gái trai. Khi nhạc cụ truyền thống vang lên mọi người đều có thể tham gia vào vòng xòe, quây quần bên đống lửa, vòng xòe không ngừng mở rộng. Nhạc cụ chính phục vụ múa xòe là công và cống. Tiếng nhạc công, cống, chiêng hòa vang đệm theo nhịp 2/4 tạo nên không khí tưng bừng ngày hội bản làng, đặc biệt sự nhún nhảy của người chơi nhạc tạo nên sự rạo rực, tăng thêm sức sôi động của vòng xòe.

Sự tao nhã của múa xòe là cách mời bạn xòe của các thiếu nữ dân tộc Thái và phong tục mời rượu khi tham gia xòe. Những hàng cúc bướm lóng lánh, nụ cười duyên dáng, bàn tay mềm mại nâng chén rượu nồng làm đắm say lữ khách phương xa, tạo nên ấn tượng khó phai đối với ai từng một lần tham gia xòe vòng.

+ Múa Loóng là điệu múa diễn ra xung quanh cái cối dã lúa, động tác múa là động tác giã gạo, đập chày, chuyển tay chày, gõ cối. Kèm theo những tiếng động vang ra từ điệu múa là tiếng trống, tiếng chiêng , mỗ và tiếng chày đập vào nhau, chày đập vào cối, đôi khi còn có tiếng hú reo của người múa. Đây là điệu múa thường diễn ra vào dịp mừng cơm mới, săn được thú rừng, vào những đêm nguyệt thực khi khắp nơi người ta gõ múa điệu múa này. Đôi khi múa cả ở đám ma và đám cưới nữa.

Múa sạp Thái Mai Châu
Múa sạp Thái Mai Châu

Gõ sạp đón khách là một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của đồng bào Thái. Gõ sạp tạo bầu không khí sôi động, náo nhiệt khi trong bản, trong mỗi nhà tổ chức các cuộc vui có đông khách tham dự. Kiến trúc nhà sàn của dân tộc Thái mang một nét khá khác biệt với kiến trúc nhà sàn của một số dân tộc khác ở chỗ: khi đi lên hết cầu thang, nó không chỉ có cửa rẽ vào lòng nhà, mà nó còn có một lan can – nơi diễn ra cảnh gõ sạp đón khách tới chơi nhà – nằm dọc theo trái nhà dẫn thẳng xuống khu vực bếp. Số người tham gia gõ sạp từ 9 đến 12 người, là nữ trẻ, giỏi văn nghệ.

Nhà ở

nhà sàn mai châu
Nhà sàn mai châu

Nhà sàn của người dân tộc Thái cách mặt đất khoảng 1,5m, làm bằng những cột gỗ chắc chắn. Du khách đến nhà được mời múc nước rửa chân trước khi lên cầu thang. Sàn nhà làm bằng tre hoặc bương hay những tấm ván chắc chắn. Nóc nhà lợp lá gồi, lá mây hay lợp ngói.

Cửa sổ trong nhà thường có kích thước lớn để đón gió mát, nơi để chủ nhà treo những lồng chim cảnh, giỏ lan. Một khung cửi dệt vải treo cạnh cửa sổ là nơi làm việc của những cô gái mới lớn. Những chàng trai chưa vợ chỉ cần nhìn giá xếp chăn, đệm, quan sát hoa văn, họa tiết trang trí… là có thể biết được tài khéo của các cô.

Khách sẽ được chủ nhà mời ngồi trên chiếc chiếu hoa, uống rượu cần tuyệt ngon làm bằng lúa nếp, lá hính ho, ngực mèo, gừng, ăn xôi nếp. Thoáng qua những ô cửa là những chiếc ao nhỏ hình vuông, nước trong vắt, vài chú cá đang tung tăng bơi lội. Đặc sản Mai Châu nhiều và ngon, nhưng ngon hơn cả vẫn là xôi nếp và mật ong. Mật ong thì phải đợi đến mùa hoa mới có, ít và hiếm.

Nhưng xôi nếp thì nhiều và sẵn, sau cuộc trò chuyện vui vẻ, thân mật, thế nào chủ nhà cũng mời du khách nếm thử. Xôi nếp Mai Châu nổi tiếng từ lâu. Nhà thơ Quang Dũng đã nhắc tới Mai Châu như một kỉ niệm, một nỗi nhớ “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Món cơm nếp trong ống lam lại càng thơm và dẻo.

Hôn nhân dân tộc Thái

Người dân tộc Thái có nhiều nhóm: Thái đen, Thái trắng, Man Thanh, Tày Mười, Tày Thanh. Người Thái đen làm nhà có hình mai rùa và được trangtrí theo phong tục xưa.Đặc biệt, tục búi tóc (tăng cẩu) là một nét đẹp trong văn hóa của người Thái đen. Hôn nhân của người Thái đen là hôn nhân theo kiểu phụ hệ, nhưng từ trước tới nay, tập người này vẫn duy trì tục ở rể, gửi rể.

Khi chàng trai người dân tộc Thái đen đến tuổi lấy vợ (trước đây là 13-14 tuổi), nay mười tám, đôi mươi sẽ tự đi tìm người con gái mà mình ưng ý hoặc do bố mẹ “nhắm cho”. Khi muốn lấy cô gái làm vợ, người con trai nhờ mẹ đẻ và một vài bà trong họ đến nhà cô gái làm một vài thủ tục gọi là Lòng Luông.

Lòng Luông:là mấy bà chưa mang lễ vật, chỉ đến nhà cô gái xin cho con trai mình được đi về (mà ngày nay gọi là xin đi lại) để tìm hiểu. Sau một thời gian, họ nhà trai tổ chức một đòn có lễ vật: gà, lợn, rượu, gạo… đến nhà cô gái, đoàn này do một ông mối (làm) dẫn đầu và giao tiếp gọi là pay đu, có dòng họ gộp hai giai đoạn này làm một gọi là Lòng luông đu châu.

Pay đu: Nội dung mời bên ngoại (họ của mẹ cô gái) về xin ý kiến, xin cho đôi nam nữ có điều kiện tìm hiểu. Sau một thời gian từ 3-4 tháng, gia đình và họ nhà gái chỉ nhận lời cho gần gũi, chứ chưa nhận lời cho lấy nhau. Tiếp đó là thủ tục mới gọi là To pác.

Đám cưới thái mai châu
Đám cưới thái mai châu

To Pác: cũng là một đoàn nhà trai mang lễ vật đến nhà gái làm cỗ mời hai họ (thực chất là 4 họ). Sau đó họ nhà gái công khai hỏi đôi nam nữ về nguyện vọng xây dựng gia đình. Giai đoạn trên họ nhà gái bàn bạc đi đến nhất trí cho lấy hay không, nên gọi là To Pác (đo và đánh dấu). Sau To Pác là Khưới quản.Có vùng gọi giai đoạn này là: Ôm sáo (chứng minh cho cô gái tìm hiểu về mình).

Khưới quản:Người con trai đến ở nhà cô gái, được cùng ăn, làm vệc nhưng ngủ một chỗ riêng gần sàn quản, gọi là khưới quản.Giai đoạn này khoảng 1 năm cô gái vẫn có quyền tiếp bạn trai khác. Tuyệt đối người khưới quản không được lén lút ngủ với cô gái, nếu có (nhất là chửa) sẽ bị phạt rất nặng. Sau một năm, nhà trai làm thủ tục gọi là Xông Phắc phá.

Xông Phắc Phá (đem bao dao cho chú rể): nhà trai làm một bao dao mới (có cả dao) đem theo lễ vật: lợn, gà, cá nướng, thịt chua, gạo, rượu làm cỗ mời nhà gái ăn, từ 10 giờ sáng đến tận tối (gọi là công ơn). Trong bữa cơm công ơn này có Khoóng Phác nói (gửi nhỏ), Khoóng Phác luống (gửi lớn). Đây là một hình thức gửi rể cho nhà gái, họ có lời chúc, lời khuyên đôi trai gái sắp thành vợ chồng, lời khuyện răn là những câu ca dao, tục ngữ, gọi chung là lời nói có vần.

Cứ thế người ta dạy cô dâu, chú rể bằng văn vần và kết hợp cho một số tiền nhỏ làm vốn, đặt vào một cái đĩa, gọi là Phan khẩu xó (Bàn cơm xin). Ở đây là xin phúc, xin lời răn dạy, xin nhận họ hàng. Ở nghi lễ này đôi nam nữ được chấp nhận là vợ chồng. Họ được dọn nhà mình, (biểu hiện bằng sự mừng vui được đón cô dâu về nhà chồng), một đoàn trai tráng khiêng gánh chăn, đệm và các vật phẩm họ nhà gái tặng như dụng cụ nhà bếp bát, chậu, nồi xoong về đến nhà chồng người ta làm lễ tổ tiên cho co dâu nhập gia.

Nhà trai lại tổ chức một bữa cỗ đông vui chào hai họ và bè bạn. Sau đó là tục mời uống rượu cần, nhà trai có một đoàn từ 5-6 người biết cách sắp xếp ngôi thứ hai họ, giỏi mời chào cầm tay vào chum rượu uống theo đôi một hoặc 4 đến 5 đôi, lời hát răn dạy lại cất lên.

Cổ xưa phần này dược coi trọng phần trả ơn cha mẹ, công ơn người làm mối, và cha mẹ cô gái chia tài sản cho đôi vợ chồng, tiếp theo là lời hát chào, mừng hai họ và đôi vợ chồng mới. Tiếp nữa là hình hành vòng xoè giao kết hai họ và nam thanh nữ tú của hai họ. Cuộc xoè mú kéo dài đến tận đêm khuya, vừa xoè múa vừa ống rượu cần.

Ngày nay do thực tế đời sống người con trai không thể ở rể như trước bởi họ là cán bộ công nhân viên chức, làm nghĩa vụ quân sự… hoặc do phong trào giãn hộ tách bản để làm kinh tế theo hộ gia đình, nên việc ở rể tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, có khi chỉ là một, hai tháng, một hai tuần và việc cưới xin chỉ thực hiện mộtlần, sau khi đôi nam nữ tìm hiểu đi đến hôn nhân, đoàn nhà trai có một doàn gồm đủ thành phần đủ cả họ bố, mẹ đến xin và hẹn ngày làm đăng ký kết hôn và làm lễ Tằng cẩu thực hiện ngay tại ủy ban Nhân dân xã, đôi vợ chồng trẻ được nghe một đoạn về luật hôn nhân, gia đình…

Chú rể chỉ đến nhà vợ ở một tháng hay một tuần người ta tổ chức lễ cưới đón cô dâu về nhà chồng, nghi lễ cũng ngắn gọn hơn, những hình thức vẫn là nhà trai đem đến vật phẩm tặng nhà gái. Việc cúng lễ tổ tiên chấp nhận cô dâu mới ngắn gọn, việc ăn uống tuy đông đúc nhưng không xa hoa lãng phí mà mang một nét ẩm thực độc đáo, một tục lễ uống rượu cần và rượu chai hết sức văn hoá, tuy có say nhưng người ta chỉ hát xèo, múa, thể hiện sự mừng vui, thắt chặt tình làng xóm, họ tộc, không say làm điều sai quấy.

Đặc trưng nhất là tục uống rượu cần, chỉ có họ nhà trai đi mời chào họ nhà gái, họ nhà gái ít từ chối và uống theo một tục lệ nhất định nhằm tăng cuộc vui, sau đó là xèo múa vòng, người ta tạm quên đi bao nỗi nhọc nhằn, xoá bỏ đi mọi va chạm của cuộc sống, nắm tay nhau vào vòng xoè vui bất tận.

Qua việc biến cải về tục cưới xin của người dân tộc Thái ta thấy: việc cưới hỏi không chỉ nhằm vào một mục đích duy nhất và làm cho trai gái thành vợ thành chồng gắn bó sinh sống, nối dõi tông đường, mà nó còn nhằm vào một mục dích cao cả nữa là giúp cho đôi vợ chồng ấy có đủ cơ sở vững chắc đủ bản lĩnh và thói quen, kinh nghiệm sản xuất, văn hoá ứng xử chọn vẹn đạo lý làm người, mà sống suốt đời hạnh phúc góp phần xây dựng cho họ tộc và cộng đồng những giá trị tập quán văn hoá.

Đồng thời cũng thể hiện rõ nét tinh thần trách nhiệm của cha, mẹ họ tộc trước hôn nhân của thế hệ trẻ, mà không hề mất đi tính tự do trường tồn cho đế tận ngày nay, những cải biến chỉ là để phù hợp với thời đại chứ không mang tính thị trường, thương mại, lai căng làm giảm giá trị nhân văn của họ. Cưới hỏi của người Thái được xem như một lễ hội rõ rệt. Lễ hội của tình yêu, hạnh phúc.

Tục búi tóc và chăm sóc tóc:

Sau thời gian ở rể có thể chỉ 3 tháng hoặc kéo dài cho đến khi chàng rể được nhà cô gái chấp nhận. Để đôi uyên ương được ngủ chung với nhau thì hai gia đình phải tiến hành làm lễ “tăng cẩu” (búi tóc), chính thức công nhận họ là vợ chồng. Búi tóc của người phụ nữ dân tộc Thái đen từ thời điểm này được coi như là một dấu hiệu thông tin cho mọi người biết họ đã có chồng.

Để làm lễ này, nhà trai lại phải mang tới nhà gái một số lễ vật. Theo tục lệ, lễ “Tăng cẩu” được thực hiện ở gian gần bếp, người ta chuẩn bị một chậu nước lá thơm. Đại diện phía nhà trai gội đầu, chải tóc và búi tóc cho cô dâu. Tóc được búi lên, cuộn lại bằng một dây xà tích bằng bạc và cài một chiếc trâm bạc giữ cho tóc không bị xổ ra.

Trong lúc búi tóc cho cô gái, đại diện hai nhà cùng uống rượu và hát đối đáp “khắp toóc”. Nội dung của các bài khắp nói lên hoàn cảnh của mỗi nhà và những lời dặn dò đôi trai gái. Sau lễ tăng cẩu, chàng trai và cô gái được ngủ chung với nhau, cũng từ đó cô gái phải luôn búi tóc vừa để làm đẹp vừa như là một dấu hiệu thông báo cho các chàng trai khác biết họ đã có chồng. Về nguyên tắc, lễ cưới có thể được tổ chức bất kỳ lúc nào mà hai gia đình muốn, sau lễ “tăng cẩu”.

Với người phụ nữ dân tộc Thái, bên cạnh “tăng cẩu” thì nghệ thuật gội đầu, chăm sóc tóc của họ cũng được coi là cả một nghệ thuật mới mẻ với nhiều nét độc đáo.

tục búi tóc thái mai châu
Tục búi tóc thái mai châu

Mái tóc thường được chăm chút cẩn thận và nuôi dài, rất hiếm phụ nữ dân tộc Thái cắt tóc ngắn. Ngày xưa phụ nữ dân tộc Thái thường gội đầu với lá cây rừng để giữ tóc đen mượt. Người dân tộc Thái quan niệm, việc gội đầu của người vợ có quan hệ mật thiết với tính mạng của người chồng, nhất là khi người chồng đang đi xa và làm những việc nguy hiểm.

Bởi vậy để tránh nguy hiểm cho chồng, người vợ thường không gội đầu trong suốt thời gian chồng đi vắng. Công việc hết sức hệ trọng đó được tiến hành trước ngày chồng đi xa và chỉ được thực hiện khi người chồng đã quay về một cách an toàn. Có những lần chồng đi rừng đến 1-2 tháng. Trong khoảng thời gian đó người phụ nữ Thái cũng không được gội đầu.

Để cho những búi tóc luôn sạch, không bị gầu, không bị bết lại, phụ nữ Thái có một bí quyết riêng. Bí quyết này được truyền từ đời này sang đời khác cũng như cái quan niệm không gội đầu khi chồng vắng nhà. Bí quyết đó hết sức đơn giản nhưng cũng rất hữu hiệu: dùng nước gạo để gội đầu. Phải là nước vo gạo nếp và phải thật đặc như kiểu hòa bột vào nước.

Nước đó phải để ít nhất 2 ngày hai đêm đến khi thành một hỗn hợp sền sệt và có mùi thum thủm thì mới được đưa ra để gội đầu. Theo “quy định” thì mỗi khi người chồng đi xa thì phụ nữ nhất định không được gội đầu thế nhưng với những trường hợp chồng đi lâu ngày quá thì người vợ cũng có thể “phá rào”. Tuy nhiên công việc này chỉ được tiến hành vào buổi đêm “để tránh con mắt của quỹ dữ”.

Không chỉ kiêng gội đầu lúc chồng đi vắng mà phụ nữ Thái cũng không được gội đầu vào 3 ngày Tết hoặc khi nhà có đại tang. Khi bố, mẹ qua đời, con dâu và con gái không được gội đầu, tắm rửa từ khi bắt đầu các công việc chuẩn bị tang lễ đến khi tang lễ kết thúc. Cùng với việc không được gội đầu, những người phụ nữ trong nhà chỉ được tắm với điều kiện mặc nguyên cả váy áo (phụ nữ Thái thường tắm “tiên”, lúc tắm không mặc áo cho dù tắm chung suối với nam giới).

Trong ngày Tết, người dân tộc Thái quan niệm gội đầu là một tư thế không được đẹp mắt sẽ làm phật ý những người đã khuất. Bởi vậy việc gội đầu phải được hoàn thành trước ngày 28 Tết. Hết 3 ngày Tết hay khi tiễn những người đã khuất về trời thì người phụ nữ mới được phép tắm rửa, gội đầu trở lại.

Lễ hội truyền thống dân tộc Thái

lễ hội mai châu
Lễ hội mai châu

Lễ hội xưa của người dân tộc Thái Mai Châu có nhiều như Cầu mùa, Cầu mưa, Nhóm lửa về nhà mới, Mừng cơm mới, Lễ bỏ vía…Có một lễ hội đặc biệt gắn với bản thân người thầy mo là lễ hội Chá Chiêng. Theo các bậc cao niên ở các bản làng đồng bào thì lễ hội Chá Chiêng có từ xa xưa. Thủa đó, “mặt đất còn như lá đa, bầu trời như nắp con ốc, rừng núi như dấu chân con gà”, Chá Chiêng đã được các thầy mo tổ chức.

Lễ hội Chá Chiêng( còn gọi là lễ Xăng Khan) là ngày hội có quy mô và ý nghĩa cộng đồng lớn nhất của đồng bào Thái. Mục đích và ý nghĩa của lễ hội là ngày tạ ơn các ông mo đối với tổ tiên và những người thầy đã dạy cách bốc thuốc chữa bệnh cứu vớt chúng sinh.Cứ 3 hoặc 5 năm một lần vào khoảng tháng 11 Âm lịch, khi bắp ngô trên nương đã gùi hết về nhà, lúa ngoài đồng đã gánh hết về bản, hoặc tháng 2, tháng 3 Âm lịch của năm sau là tháng tốt, tháng lành, ở nhiều bản Thái mở hội Xăng Khan để chào mừng xuân mới và mong sức khỏe. Thời gian mở hội từ 2 đến 3 ngày.

Thầy mo của người dân tộc Thái (còn gọi là Mùn, Mường), trước hết là người có hiểu biết về nhiều mặt, nhất là phong tục của tộc người mình. Thầy mo vừa là thầy, vừa là người cùng cai quản bản mường cùng quan chức hành chính. Ông được tôn xưng là con trời, người có khả năng giao tiếp với thần linh. Thầy mo được ma (Phi) nhập vào thì gọi là Mùn Luông. Phi Mùn như cái bóng, như sức mạnh trấn quỷ trừ ma của thầy mo. Vì có kiến thức nhiều mặt, với cả y thuật lẫn quỷ thuật, trong quá trình hành nghề, thầy mo đã chữa được nhiều bệnh cho nhiều người.

Những người bệnh nặng được thầy chữa khỏi tự nguyện trở thành con nuôi của thầy mo, gọi là Lục mày hay Lục liểng, Lục nà. Cứ ba năm, Mùn Luông tổ chức lễ tạ ơn thần linh, mời quan quân ở “mường Trời” xuống “Mường trần” ăn cỗ, gọi là lễ hội Chá Chiêng. Lễ hội này thường được tổ chức vào mùa xuân khi cây mạ đã xanh và hoa ban đã nở đẹp núi rừng. Trong lời mo mời có câu:

“Xuống ăn chiêng hoa mạ

Xuống ăn chá cỗ tết hoa ban…”

Vì mỗi ông mo được học mỗi thầy khác nhau; mỗi bản, mỗi vùng có điều kiện kinh tế, sinh hoạt khác nhau nên cách thức tổ chức lễ hội Xăng khan ở mỗi nơi cũng có sự khác nhau. Tuy nhiên, phần cơ bản trong lễ hội Xăng khan đều được các thầy mo thống nhất theo trình tự như sau:

Vào dịp đầu xuân mới, thầy mo chủ (mo môn) khơi vò rượu cần xin phép tổ tiên chọn ngày lành, tháng đẹp để tổ chức lễ hội Xăng khan. Sau khi chọn được ngày, mo chủ nhờ người nhà mang trầu, cau, rượu sang mời các mo bạn tới dự lễ. Số lượng mo bạn được mời giới hạn từ 8 đến 24 người (gồm cả mo ông và mo bà). Nếu mo bạn nhận lời thì gửi làm tin cho mo chủ một cái quạt và một chiếc khăn.

Ngoài mời mo bạn, mo chủ còn mời một nhóm nam, nữ thanh niên khoẻ mạnh, có phẩm chất đạo đức tốt đến giúp mo chuẩn bị đồ lễ cúng tế. Trước thời điểm mở hội 3 ngày, nhóm nam nữ thanh niên tập trung về nhà mo chủ. Ai đến trước sẽ được chọn làm người phụ trách: được theo mo chủ đi tìm cây làm hoa và được têm trầu, mời rượu các thầy mo bạn.

múa sạp
Múa sạp

Cỗ bàn của lễ hội này gồm hàng vài ba chục mâm do chủ tế là thầy mo cùng các con nuôi là Lục mày đóng góp, bàn soạn. Nhà sàn của thầy mo vào dịp ấy được trang trí sặc sỡ bằng những tấm thổ cẩm đẹp nhất. Ở giữa nhà cắm một cây hoa gọi là cây hoa chá. Trụ cây hoa là một cột tre cao. Ở trên cùng là bông hoa bua giùa. Ðây là bông hoa suốt đời không héo (Boóc bua giùa báu hủ sụt chua) tượng trưng cho sự linh thiêng và sức mạnh vĩnh hằng của Mùn Luông.

Ở phía dưới có những lỗ để các con nuôi mỗi người cắm một cành hoa do mình mang đến được chế tác rất khéo léo, công phu từ trước làm bằng gỗ một thân cây mềm gọi là phá phước. Ngoài tầng trời (then chỏm), ở tầng trần gian người ta bày những con vật và đồ vật (tượng trưng như cái cày cái bừa, con dao, khung cửi, trâu bò, ếch nhái, v.v…).

Cả hoa lá, núi rừng, cả đời sống sinh hoạt của người dân tộc Thái, thiên nhiên bên trong và bên ngoài của người dân tộc Thái cùng hòa hợp, tạo nên không khí vui tươi của lễ hội, làm cho con người gắn bó với nhau hơn bằng tình cảm, con người càng yêu thêm thiên nhiên, làng bản và những sản vật do mình làm ra. Cây hoa to (xăng tan) được làm từ cây nứa già, cao chừng 3 mét. Trên cây nứa có chạm trổ nhiều hình chim, hoa và được khoan nhiều lỗ để cắm tượng trưng các loại hoa quả, muông thú.

Hoa quả, muông thú được làm từ bấc cây tang, cây sắn hoặc ruột bầu phơi khô hay các hình vẽ trên giấy được nhuộm màu xanh, đỏ, tím, vàng…Riêng loại hoa làm từ bấc cây tang thì được cắt thành từng mẩu dài chừng 2 – 3 cm, xâu vào sợi lạt nhỏ (đã được chẻ làm 2 -3 nhánh). Ở phần ngọn các nhánh hoa, người ta gắn vào một bông hoa (được cắt từ cành dâu) để giữ các bông hoa phía trong không bị tuột khỏi cành, đồng thời để tạo ra một loại hoa khác gọi là tang chò.

Một loại hoa khác được xâu vào sợi vải dài rủ từ ngọn cây xăng tan xuống đất gọi là xái mường (tượng trưng cho con đường thánh thần đi từ Mường Trời xuống trần gian dự lễ hội). Ngoài cây xăng tan, người ta còn dựng hai cây mía để nguyên lá và một cây xăng boọc (cây hoa thật) được cắm vào nhiều loại hoa rừng.

Với lễ hội Chá Chiêng, điều đầu tiên là tình cảm, ân nghĩa, tình cảm uống nước nhớ nguồn được bồi đắp. Nhân dân lao động được tự do bày tỏ khả năng sáng tạo trong sản xuất và hoạt động nghệ thuật; trai gái được bày tỏ tự do yêu đương, cả bản cùng hưởng thụ thành quả lao động, thành quả văn hóa, được đắm say trong những bài mo suốt ngày đêm kể về trời đất, kể về sinh hoạt cộng đồng và các sự tích… Hẳn nhiên, lễ hội Chá Chiêng cũng có yếu tố mê tín, bắt buộc cống nộp đôi khi nặng nề.

Bằng mắt nhìn cực đoan, thổi phồng cái tiêu cực hoặc không thấy được ý nghĩa văn hóa sâu sắc trong lễ hội này cũng như nhiều lễ hội truyền thống khác mà các lễ hội dần mai một vì thời gian, cả vì những mệnh lệnh hành chính. Phần lễ bị tước bỏ, cấm đoán nhiều lại chính là phần mang đậm bản sắc truyền thống và các tác phẩm văn học dân gian có giá trị. Lễ hội luôn để lại dư âm tốt đẹp trong tâm thức của các thế hệ, niềm luyến tiếc về một cuộc sống tươi vui rực rỡ xa xưa.

Lễ hội mất đi thì dễ nhưng khôi phục thì khó, nếu không nói là hầu như không khôi phục được. Lễ hội Xăng Khan là một lễ hội tín ngưỡng dân gian độc đáo của người Thái, góp phần thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nhất là văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và người dân tộc Thái nói riêng.

Vào tháng ba, tháng tư hằng năm, hễ trời đại hạn là người dân tộc Thái ở Mai Châu (Hòa Bình) lại tổ chức ngày hội cầu mưa. Hội tổ chức theo từng bản vào những đêm trăng có quầng đỏ quầng vàng – điềm báo trời đại hạn kéo dài. Tham gia tổ chức hội đông nhất là nam nữ thanh niên. Còn lớp người trung niên và già cả thì ở nhà để sẵn sàng đón tiếp đoàn hát cầu mưa.

Đoàn hát thường đông tới năm sáu chục người. Ai cũng tự sắm sửa đủ mũ, nón đội đầu và áo mưa (áo tơi lá cọ). Mọi người tự giác xếp hàng hai ở một bãi rộng trong làng. Dẫn đầu đoàn hát có một người lĩnh xướng, người thứ hai cầm một cái sàng gạo. Họ chọn nhà nào có bà già cao tuổi nhất bản đến đầu tiên. Khi tới sân nhà cụ bà, đoàn người dừng lại, đội ngũ chỉnh tề. Người lĩnh xướng gọi vọng lên trên nhà mời cụ bà ra cầu thang làm lễ cầu mưa. Dứt lời mời, cả đoàn người hưởng ứng bằng lời hát cầu mưa.

Sau khi đi khắp lượt các nhà trong bản, đoàn hát cầu mưa trở lại nơi xuất phát để châm đuốc. Mỗi người thắp một bó đuốc trên tay, họ diễu hành hàng một quanh bản một vòng, sau đó kéo nhau ra suối nước. Tất cả số đuốc được chụm lại hai, ba đống bên bờ suối. Lửa đuốc sáng rực cả một góc trời, hắt ánh vàng xuống dòng nước lóng lánh. Họ liền chia ra từng tốp nam, nữ đứng mặt đối mặt với nhau, để thi tát nước “vàng” nước “bạc” vào người, vào mặt nhau. Khi ai nấy đều ướt sũng, rét cóng cả người, mới chịu tan đêm hội về nhà mình.

Sáng sớm hôm sau, bản liền cử một số đàn ông đứng tuổi, khỏe mạnh lên rừng tìm cây dáy “vằn” (5) và xuống suối nhặt lấy ốc “đít nhọn”. Họ đem cây dáy “vằn” đút vào miệng lỗ các mỏ nước mạch (để chọc tức vua nước). Đoạn, họ lại đem ốc “đít nhọn” ở suối đóng như đóng đinh vào thân cây sổ (để chọc tức vua trời). Vua “trời” và vua “nước” bị người trần chẳng những dùng lời lẽ ngọt ngào xin cầu mưa, mà còn trêu tức quá đáng, ắt sẽ nổi giận làm ra mưa to, gió lớn.

Đề phòng vua “trời” và vua “nước” trả thù, khắp nơi nơi người ta cấp tốc tìm cây cột chống đỡ những nhà sàn bị mối mọt, xiêu vẹo, đồng thời họ khơi thông mương máng, sửa sang lại bai đập vững chắc. ở giữa các bai đập, người ta còn đặt một cái thang tre 12 bậc từ chân đập lên mặt đập, mỗi bậc lên xuống đều cắm lông cánh con vịt và cứ cách hai bậc lại treo lủng lẳng quả trứng vịt nhuộm mầu, có ý để thần “Rồng” theo thang đó mà qua lại chứ không chui rúc theo dòng nước lũ, làm hỏng bai đập của người.

Vào dịp tổ chức hội cầu mưa, hầu như mọi sinh hoạt của người Thái đều hướng cả vào việc cầu mưa. Trai gái yêu nhau cũng tạm gác những lời hát tỏ tình giao duyên dành lời ước ao cho hạt mưa rơi. Nếu sau ngày hội cầu mưa, trời vẫn nắng hạn thì đến tháng trăng sau, các làng lại tổ chức tiếp với hình thức như lần hội kỳ trước.

Hội Cầu Phúc của người dân tộc Thái được tổ chức vào tháng 8 âm lịch ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Đây là hội cầu phúc của người dân tộc Thái Mai Châu. Các nhà đều sắm cỗ cúng bày ở miếu thờ chung theo nguyên tắc: Năm trước cúng gà, năm sau cúng lợn. Đến chiều, mỗi nhà mổ 2 con gà để cúng Thổ công (để trong nhà) và cúng Thổ địa (đặt ngoài ruộng).

Lễ hội xên Mường là một trong những lễ hội lớn nhất trong năm của dân tộc Thái, tưởng nhớ đến các vị tiền nhân đã khai khẩn đất đai, lập ra đất Mường – cách gọi tên vùng đất nơi người Thái đang sinh sống, cùng các đời vua chúa chống giặc ngoại xâm. Lễ cầu mong cho người dân tộc Thái được no, hạnh phúc. Cầu cho Mường Mùn xưa, nay là Mai Châu được no đủ, bình an, phồn thịnh.

Lễ hội bắt đầu bằng đám rước đem mâm cỗ từ nhà Tạo Mường ra miếu. Đi đầu là Tạo Mường và các chức sắc khác. Tiếp theo là thanh niên nam nữ khiêng giàn chiêng trống (4 chiêng đồng, 1 trống cái) cùng kèn, sáo. Các già bản quấn khăn đỏ, mặc áo tơ vàng, quần màu chàm, thắt dải lưng xanh, vác theo cung và hai con trâu mộng làm vật hiến sinh.

Bộ sừng trâu bọc giấy màu, giữa trán và hai bên mông dán hình hoa cắt bằng giấy trắng. Hai con trâu này, một con để cúng thần hoàng (phi sữa) và một con để cúng thần tổ ở đình gốc. Sau cùng là đoàn quân bảo vệ mường bản mặc quần vàng, áo đỏ viền xanh, đội mũ chóp đỏ, chân đi hài, quấn xà cạp tận đầu gối, vai vác súng hỏa mai bọc bạc và gươm, giáo.

Phần hội diễn ra nhiều hoạt động vui chơi sôi nổi. Buổi đầu của ngày hội chủ yếu là làm lễ và múa hát, đánh trống, chiêng. Buổi thứ hai có tổ chức thi bắn súng và cung nỏ. Hình thức bắn súng là người ta tung quả bưởi lên mái nhà, quả bưởi lăn xuống theo mí dốc, các tay súng thiện xạ lần lượt ngắm, đón, bắn. Người thắng là người bắn cả ba lần đều trúng, đoạt được giải của cần han (người tài giỏi), được thưởng một mâm cỗ đầy xôi, thịt gọi là pàn han.

Tạo Mường đứng ra trao thưởng cho người cần han một thanh kiếm chuôi ngà voi khảm bạc, tuyên bố phong chức Tuần Mường (người đứng đầu an ninh phòng vệ) cùng một số ruộng đất.

Trò chơi

bắn nỏ
Bắn nỏ

Người Thái Hòa Bìnhnhiều trò chơi dân gian truyền thống như: keng loóng, đánh trống chiêng, chơi quay, ném còn, tò lẻ, thi hát đối đáp… Keng loóng được coi là một trong những trò chơi truyền thống gắn với quan niệm xưa ếch ăn trăng vào ngày nguyệt thực của người Thái. Đây là lối chơi âm nhạc của người Thái bằng cách dùng chày giã gạo vào cối hình thuyền tạo nên những âm thanh đặc biệt. Việc chơi keng loóng thể hiện sự khéo léo, uyển chuyển của người phụ nữ trong sử dụng chày và cối.

Hát người Thái gọi là “khắp”, người dân tộc Thái có rất nhiều kiểu “khắp” khác nhau như: “khắp báo xao” (hát giao duyên của thanh niên nam nữ); “khắp xư” (ngâm thơ); “khắp xống khươi” (hát tiễn chàng rể); “khắp xo pợ xo náng (hát xin dâu); “khắp tỏn khươi tỏn pợ” (hát đón rể, nàng dâu”; khắp au phua, au mía” (hát lấy vợ lấy chồng – hát trong đám cưới) v.v…

Hát trong đám cưới là một tập tục, một truyền thống văn hóa lâu đời của người Thái. Đồng bào quan niệm trong đám cưới không có hát coi như không có đám cưới (trừ trường hợp một trong hai họ có chuyện không vui như đang có tang).

Với quan niệm đó, người Thái khi chuẩn bị tổ chức cưới xin cả hai bên, việc đầu tiên là tìm được người đại diện cho mình để hát. Người đó phải thông thạo phong tục tập quán dân tộc, nhất là trong cưới xin, phải biết ứng xử giao tiếp giỏi, biết hát hay, đặc biệt là biết đối đáp ứng khẩu nhanh khi hát và đúng trình tự hát trong đám cưới. Đến dự đám cưới có rất nhiều người biết hát và hát rất hay. Nhưng bao giờ người Thái cũng luôn tôn trọng người được bên trai, bên gái chọn đại diện cho mình để hát chính.

Còn những người cùng dự đám cưới chỉ làm nhiệm vụ lĩnh xướng “au hang” mà thôi. Hát của người dân tộc Thái bao giờ cũng phải có số đông người lĩnh xướng nhất là trong cuộc rượu vui và cưới xin. Trong cuộc vui và cưới xin mà hát không có người lĩnh xướng, chỉ có 2 người hát đối đáp nhau không thôi thì cuộc vui sẽ rất đơn điệu, tẻ nhạt. Hát được mọi người lĩnh xướng sẽ làm cho cuộc vui thêm đậm đà và mọi người thực sự được hòa nhập trong không khí vui tươi đầm ấm và thăng hoa. Họ chú ý lắng nghe và tấm tắc khen ngợi, thưởng thức những lời hay ý đẹp do người hát đem lại.

Mặt khác có lĩnh xướng của mọi người trong mâm rượu làm phấn khích người hát thêm say sưa và sáng tác ngẫu hứng thêm nhiều lời hay ý đẹp.Hát trong vui chơi, hát giao duyên và đặc biệt hát trong đám cưới bao giờ họ cũng hát lời chào hỏi nhau trước. Khi trong cuộc vui hoặc cưới xin, mọi người đều cơm nước no mới bắt đầu chuyển sang phần vui văn nghệ.

Họ vẫn ngồi yên vị tại mâm vừa ăn, vừa uống, vừa hát cho đến khi tan cuộc. Hát trong cưới xin, lúc đầu thầy mo hát chúc tụng mọi người trong mâm, nhà trai nhà gái luôn mạnh khỏe, ấm no, hạnh phúc. Sau đó nhà trai mới bắt đầu hát và hát xin lỗi trước. Tiếp đó hát chào mọi người trong mâm rồi hát rằng nhà nghèo không có gì để làm bữa cưới cho tươm tất, không đáng để mời hai họ, bạn bè về dự vui.

Dù có mâm cao cỗ đầy cũng hát rằng phận nhà trai nghèo không có mâm cao, cỗ đầy mời khách và họ hàng nhà gái và mong mọi người thứ lỗi. Tiếp đó mới hát đối đáp nhau. Họ hát từ lúc người con trai, con gái còn đang đầu thai trong bụng mẹ, sinh ra, lớn lên cùng nhau, rồi biết tìm hiểu yêu đương nhau cho đến khi tổ chức đám cưới.

Bên trai bên gái cứ hát đối đáp qua lại như vậy, hát giai đoạn trai, gái tìm hiểu, yêu đương khá dài tùy theo khả năng và thời gian cho phép có thể thâu đêm suốt sáng. Người hát, cả bên trai bên gái phải hết sức linh hoạt, nhanh ý ứng khẩu cho phù hợp. Biết tài nghệ ứng dụng, biến tấu các bài hát giao duyên có trong dân gian và ứng tác tại chỗ kịp thời.

Đồng thời phải biết trích các đoạn hát trong “Hạn khuống”, “Sống chụ xon xao”, “Tản chụ xiết xương”, “Tản chụ sống sương” rồi các bài hát thách đố nhau, trêu ghẹo nhau, thử tài nghề hát của nhau v.v… rồi đỉnh cao là hát “Sok có Kxen ken” là những bài hát thách đố lẫn nhau những cái không có thực ở trong đời sống nhưng phải đối đáp được có tình có lý bắt buộc đối phương và mọi người thừa nhận là đúng.

Hai bên cứ hát đối đáp như vậy, thách đố nhau như vậy đến khi cả hai bên thấy hài lòng. Vui chơi thỏa thích mới đồng ý để tổ chức cưới xin cho thành vợ, thành chồng. Khi bên nhà gái đồng ý cưới gả, bên nhà trai hát rằng người con trai trẻ người non dạ, còn nhiều vụng về không biết làm rể… bên nhà gái cũng hát đáp lại rằng người con gái cũng vụng về, không biết làm dâu… rồi khen bên kia giỏi giang, tháo vát, khéo tay, chăm ngoan được lòng cha mẹ anh em, bạn bè trìu mến, mọi người bản trên, mường dưới được nương nhờ.

Nói chung trong đám cưới của người dân tộc Thái dịp cưới xin cũng là dịp để mọi người được vui chung, được thưởng thức những áng văn hay, những lời hát đẹp. Là dịp để đồng bào trong bản được hưởng thụ văn hóa tinh thần, tạo cảm hứng phấn chấn trong cuộc sống, được trò chuyện, kết bạn lẫn nhau, tạo ra được một không khí êm đềm, đấm ấm, hiểu biết, thân thiện với nhau hơn. Đó là một nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc cần được trân trọng, lưu truyền.

Xem thêm Hướng dẫn kinh nghiệm du lịch Bản Lác

Ăn uống

Người Thái có phong tục bó vó cơm lam. Đối với dân tộc Thái, cơm lam không chỉ là món ăn truyền thống mà trong ống cơm lam còn chứa đựng tín ngưỡng, giải thích một hiện tượng của tự nhiên. Quan niệm cổ xưa của đồng bào dân tộc Thái, thế giới tự nhiên được chia làm 3 phần gồm: cõi trời, trái đất và con người. Trong đó, cõi trời là một thế giới đặc biệt, chứa đựng quyền lực tối cao, quyết định mọi hoạt động của con người và mọi sự vật, hiện tượng trên trần gian.

Cõi trời còn được gọi là “Mường Then”, cai quản có 34 vị thần gọi là các Phi Then. Trong đó, 12 Then lớn đảm nhận việc cai quản và chỉ đạo mọi hoạt động trên trần gian, 22 Then nhỏ là những vị thần giúp việc Then lớn. Trong 12 Then lớn có 1 Then tên là Then Chất – Then Chát chuyên theo dõi việc sinh, tử của loài người. Then Chất – Then Chát giữ sổ lớn gọi là sổ Hương then, trong sổ ghi họ tên, chỗ ở, địa vị xã hội và tuổi thọ của từng người ở trần gian.

Hàng năm Then Chất – Then Chát đem sổ ra soát niên hạn sống của từng người, nếu ai hết hạn Then Chất – Then Chát sẽ gọi người đó về Mường Then tiếp tục một cuộc sống mới, chấm dứt sự sống trên trần gian của họ. Sống ở Mường Then là ước nguyện cuối cùng của người dân tộc Thái, tuy nhiên không phải bất cứ ai cũng được về Mường Then sinh sống, người Thái quan niệm rằng có người khi sinh ra mà các Then vô tình không biết do vậy người đó không có tên trong sổ nhà Then, khi chết đi không được hồi sinh ở cõi Mường Then, do vậy linh hồn người đó sẽ bơ vơ lạc lõng.

Phụ nữ dân tộc Thái trong những ngày đầu ở cữ thường ăn cơm lam, tất cả vỏ ống cơm lam không vứt đi mà được bó lại sau đó treo lên cành cây gần nhà, hoặc bìa rừng cùng ống tre trong có nhau của đứa trẻ mới sinh. Người dân tộc Thái tin rằng, thực hiện thủ tục này chính là thông điệp họ gửi cho các Then nhà trời thông báo đã có 1 đứa trẻ được sinh ra ở trần gian, với mong muốn Then Chất – Then Chát ghi tên đứa trẻ này vào sổ Hương Then.

Đứa trẻ lớn lên và kết thúc cuộc sống trên trần gian của mình thì Then Chất – Then Chát sẽ gọi người đó về cõi trời và được hưởng cuộc sống tươi đẹp tại cõi Mường Then.

ruou-can
Uống rượu Cần

Rượu cần người dân tộc Thái làm khá cầu kỳ, gọi là “láu xá” men rượu làm toàn bằng những thứ lá, quả từ rừng sẵn có (gọi là men lá). Những thứ quả lá chủ yếu gồm có: “Bơ hinh ho”, “khi mắc cái”, củ riềng, lá trầu không, quả ớt…những thứ này được giã đều cho thật nhuyễn với gạo tấm, sau đó nắm thành từng miếng tròn dẹt như bánh rán, đem ủ với rơm, xếp từng lớp đều nhau.

Khi đã ủ kỹ từ 15 đến 20 ngày có mùi men bốc lên họ đêm phơi lên gác bếp cho khô. Khi cần dùng đem giã nhỏ rắc vào cái rượu, mỗi mẻ rượu cần từ 7 đến 9 bánh, cái rượu được làm bằng vỏ sắn củ khô gọt ra đem ngâm ở suối ba ngày ba đêm cho hết mùi bồ hóng và độc tố của sắn. Vớt lên phơi khô trộn với trấu lẫn tấm đưa lên “hông” đồ cho chính, sau đó đổ xuống mẹt hoặc lá cót để cho thật nguội đem men rắc đều từng lớp, tiếp tục ủ bằng lá chuối hoặc lá rừng (bỏ nhum, bơ cá) để rượu bốc men rồi đem bỏ vào từng chum, lấy lá chuối hoặc mảnh ni lông bịt kín (nếu để hở hơi rượu sẽ bị chua).

Khi đã ủ vào chum từ 25-30 ngày rượu có thể uống được, để càng lâu rượu càng đặc, càng ngọt. Ngoài sắn khô người ta còn làm bằng loại ngũ cốc, khác như ngô, hạt ý dĩ ,củ dong riềng. Trước đây gạo hiếm nên tiết kiệm dùng vào bữa ăn, ngày nay người ta dùng gạo để làm rượu có chất lượng hơn, nhất là rượu cần được làm bằng gạo cẩm thì rất bổ và ngon. Người Thái dùng rượu cần thường xuyên, nhất là những khi có khách quý mừng cơm mới, đám cưới lễ tết, hội hè, lễ đặt tên cho con…đều có rượu cần làm vui. Khi dùng rượu cần chỉ cần bỏ lớp vỏ bọc ngoài đổ nước sôi để nguội hoặc nước khoáng (trước đây chỉ dùng nước lã múc ở mõ nước sạch chảy trong lòng núi đá ra) vào bình cho thật ngấm (từ 15 đến 20 phút), cắm từ 6 đến 12 cần trúc được uốn cong cầu kỳ với những tua vải rực rỡ được trang trí.

Bình rượu được đặt ở nơi trang trọng, rộng rãi. Họ mời uống từng đợt có gia phong nề nếp, có người già và phụ nữ. Thường vẫn ưu tiên cho khách, chủ nhà uống trước sau đó đến lượt mọi người theo thứ bậc uống cùng. Uống rượu cần phải có một người chủ trì, người Mường gọi là “chú trám” còn người Thái gọi là “Nài láu”. Nài láu được phép ra những điều kiện quy định cụ thể trước khi vào cuộc rượu, nếu ai vi phạm sẽ chịu phạt theo “luật”.

Ví dụ: uống đại trà là bao nhiêu “sừng” uống từng người hay uống từng đôi, mỗi người phải uống bao nhiêu sừng…người ta dùng sừng trâu để làm đơn vị đo lường, mỗi sừng chứa khoảng 1 lít nước. Với quan niệm con trâu là đầu cơ nghiệp nên họ dùng sừng trâu để làm vật đo lường khi uống rượu là có hàm ý tôn thờ con vật quí trong nhà.

Nai láu mời mọi người uống rượu phải có động tác trịnh trọng, ý nhị với những lời mời tình cảm, trân trọng nhất. Cũng có lối mời đơn giản, lại có lối mời thành bài bản đối với khách quý, khách sang trọng lịch lãm.

Mời hai sừng đã dứt – xin mời lần ba

Những cuộc vui như vậy kéo dài khi nhạt bình rượu mới tàn cuộc vui. Họ còn tổ chức cả múa xoè vòng, múa lăm vông, đánh trống, chiêng gây không khí sôi nổi. Khi đã vào cuộc vui rượu cần con người xích lại gần nhau, xua tan mọi nỗi u buòn thậm chí sẵn sàng tha thứ cho nhau những điều chưa vừa ý, vừa lòng. Trước đây chưa có kỹ thuật chưng cất rượu.

Sau này cũng loại men ấy họ đã biết chưng cất từ rượu cần thành “rượu siêu” chất lượng tinh khiết hơn. Nhưng dẫu sao uống rượu cần vẫn là thú vui không thể thiếu được bởi nó đã đi vào cuộc sống của cộng đồng đã từ lâu, trở thành một nét bản sắc văn hoá đáng trân trọng. Nó còn là cầu nối giao lưu văn hoá, tình cảm giữa các dân tộc thậm chí đối với khách quốc tế cũng trở thành một nhu cầu giao tiếp.

Văn hóa ẩm thực dân tộc Thái Tây Bắc có nhiều nét đặc sắc, trong đó rượu mời “phi” (ma) là một điển hình. Khách miền xuôi, người nước ngoài… lên Hòa Bình công tác hay tham quan du lịch nếu được dự tiệc tại gia đình của người dân tộc Thái không khỏi bỡ ngỡ trước những món ăn ngon miệng như: Lạp trâu, bò; nặm pịa; mọ gà, cá… mà còn bỡ ngỡ trước cách mời rượu của chủ nhà.

Trong mâm cơm khách hoặc tiệc cưới, hội… của dân tộc Thái bao giờ cũng có 2 chén rượu để sóng đôi ở vị trí đầu mâm, chỗ ngồi của gia chủ và khách hay chỗ ngồi của các cụ già làng; con trưởng trong dòng họ để mời các “phi” (ma). Tục lệ này có từ lâu đời, người Thái xưa cho rằng thế giới có 3 bộ phận cấu thành gồm: Cõi trời – con người – trái đất. Trong cõi trời (cõi hư vô) có các “phi”, lực lượng này có đủ sức mạnh để điều khiển và quyết định mọi hoạt động của con người, các “phi” này thường đi theo con người để phù hộ đem điều tốt lành hoặc ám ảnh gây tai họa cho người.

Do vậy, để “phi” luôn phù hộ độ trì con người phải thờ cúng, tôn trọng “phi”. Người dân tộc Thái quan niệm trong các bữa tiệc lễ hội hay tiệc đãi khách… các “phi” đều đến để cùng vui trong đó có cả “phi hươn” (ma nhà) – đây chính là hồn của những người trong dòng họ đã chết mà người sống đang thờ, cũng có thể là “thổ công”; hoặc “phi” nào đó đi theo khách đến. Hai chén rượu đó để cho “phi khách” và “phi nhà” uống với nhau, cùng vui với những người còn sống.

Khi nâng chén rượu đầu tiên chủ và khách chúc nhau điều lành cũng chính là lúc gia chủ mời “phi” chung vui đồng thời cầu mong “phi” phù hộ độ trì cho gia đình, dòng họ mình và khách, nếu gia chủ và khách cụm ly nhau là tỏ thái độ tôn trọng và đoàn kết thì cách thể hiện sự tôn trọng đối với “phi” đó là gia chủ hoặc khách ngồi gần đổ một chút rượu từ chén của mình vào 2 chén rượu “phi”, còn nếu ngồi xa thì đổ một chút rượu xuống sàn nhà, người Thái tin rằng hành động như vậy sẽ khiến các “phi” vui, âm dương hòa hợp mọi sự sẽ tốt lành…


Xem thêm

Ẩm thực Mai Châu nơi núi rừng Tây Bắc

Đặc sản Mai Châu có gì?

Mời bạn đánh giá post này

Trả lời

DMCA.com Protection Status